Sinh con theo ý muốn: Sinh con gái, con trai như ý muốn

Theo dược sĩ Phan Đức Bình và bác sĩ Diễm Châu, nếu muốn sinh con trai, nên sinh hoạt vợ chồng trong ngày rụng trứng vài lần. Trước đó, phải để dành tinh dịch trong 7-10 ngày. Khi sinh hoạt, người chồng nên tạo cho người vợ đạt được khoái cảm và xuất tinh sâu vào âm đạo. Nếu muốn sinh con gái, sau khi hết kinh, vợ chồng cần sinh hoạt thường ngày, đến trước ngày trứng rụng hai ngày thì ngừng. Không giao hợp trong ngày rụng trứng và ngày gần rụng trứng, không cần để dành tinh dịch.

Thực hiện chế độ ăn hợp lý: Từ năm 1985, giáo sư nhi khoa người Pháp Josept Stowkowski đã chú ý đến mối quan hệ giữa sự biến dưỡng khoáng chất và sự phân phối giới tính. Qua hàng loạt nghiên cứu, 10 năm sau, ông đưa ra hai chế độ ăn uống để sinh trai, gái theo ý muốn. Theo ông, muốn sinh gái thì phải ăn nhạt, vì nếu thiếu muối, hoạt động của tuyến thượng thận sẽ gia tăng. Chúng tiết ra nhiều kích tố thượng thận, làm cho chất kali (K) bị loại ra khỏi các mô tế bào, tức là tạo ra một môi trường axit khá mạnh ở phụ nữ… Những thức ăn như bơ sữa, các sản phẩm của sữa và rau xanh có thể thích hợp với các bà mẹ muốn sinh con gái. Còn nếu muốn sinh con trai, người mẹ phải ăn thức ăn mặn, các món khoai tây, thịt, cà chua. Trong 20 năm thử nghiệm trên các loài bò sát, ông nhận thấy những con được ăn nhiều chất Na, Ca, K hầu hết đều sinh con đực.

**Vì vậy, những người có bệnh huyết áp cao, bệnh thận, phù nề thì không thể ăn uống theo chế độ sinh con trai; nếu có bệnh sỏi thận, phải kiêng các chất có canxi thì không nên ăn chế độ sinh con gái.
Việc áp dụng phương pháp này cũng phiền hà và phức tạp, phải lựa chọn thức ăn, đồ uống trong 10 tuần. Việc ăn quá mặn hoặc quá nhạt đều dễ gây rối loạn dinh dưỡng, ảnh hưởng đến sức khỏe của hai vợ chồng, khiến trứng và tinh trùng kém về chất lượng, ảnh hưởng không tốt đến thai.

Dựa trên tốc độ và thời gian tồn tại lệch nhau của 2 loại tinh trùng: Bác sĩ sản khoa Laudrum B. Shetles ở Đại học Colombia (Mỹ) khi nghiên cứu về tinh trùng của người đã tìm ra tính chất sau: Tinh trùng Y di chuyển nhanh nhưng chết sớm; tinh trùng X di chuyển chậm nhưng sống dai. Ông đã đề ra giải pháp: vợ chồng gặp nhau trước hoặc đúng ngày rụng trứng. Gặp nhau trước ngày rụng trứng sẽ dễ sinh con gái vì tinh trùng Y mất tác dụng sớm, không chờ được, chỉ còn lại tinh trùng X chờ trứng rụng. Gặp nhau đúng ngày trứng rụng thì tinh trùng Y chạy nhanh chui vào trứng trước, thụ tinh cho con trai.

Cách xác định ngày trứng rụng
- Tính theo kỳ kinh: Trước kỳ kinh 14 ngày là ngày trứng rụng dù chu kỳ kinh nguyệt dài hay ngắn. Ở đây quy ước ngày thứ nhất là ngày bắt đầu hành kinh. Nếu chu kỳ 28 ngày thì ngày thứ 14 là ngày trứng rụng (tức là 28-14 = 14). Nếu chu kỳ 29 ngày thì đó là ngày thứ 15.
Ở những người kinh nguyệt không đều (do sức khỏe không bình thường, cuộc sống gia đình không vui tươi thoải mái, nếp sinh hoạt, nghỉ ngơi không hài hòa…), cách xác định trên không chính xác, không nên áp dụng để chủ động thụ thai theo giới tính hoặc để tránh thai

- Đo thân nhiệt: Dùng nhiệt kế để theo dõi thân nhiệt mỗi sáng trước khi xuống giường vào một giờ nhất định, ghi lên bảng theo dõi. Chỉ sử dụng một nhiệt kế để tránh sai số và lấy ở một nơi nhất định trên cơ thể (như ở hậu môn hoặc âm đạo). Nếu lấy ở nách hoặc miệng thì nhiệt độ thấp hơn 0,3 – 0,5 độ C. Sau khi hành kinh đến trước ngày trứng rụng 2 ngày, thân nhiệt thấp hơn thân nhiệt trung bình 0,2 – 0,3 độ C. Trong vòng 2 ngày trước khi trứng rụng, thân nhiệt tụt xuống thêm 0,1 – 0,2 độ C (điểm thân nhiệt thấp nhất là ngày sắp rụng trứng). Ngày rụng trứng (thường là 13-16 ngày trước khi thấy kinh), thân nhiệt đột ngột tăng lên 0,3 – 0,5 độ C (trên thân nhiệt trung bình 0,1 – 0,2 độ C) và cứ giữ như vậy cho đến cuối chu kỳ, sau đó tụt xuống để sang một chu kỳ khác.
Theo dõi kết quả đo thân nhiệt của một số chị em, người ta thấy đường biểu diễn đi từ thấp lên cao, có khi lên liên tục 2-3 ngày. Nguyên nhân là trong buổi sáng đầu tiên, nhiệt độ mới lên một ít, sáng hôm sau tăng thêm một ít nữa. Trong trường hợp này, ngày thứ hai hoặc thứ ba là ngày trứng rụng.
Cần theo dõi nghiêm túc trong ba chu kỳ liền để thấy quy luật thân nhiệt của mình. Sau đó, chị em có thể đo vài ngày trong một chu kỳ trước khi trứng rụng là xác định được ngày trứng rụng.
Những chị em có kinh nguyệt không đều và chị em đang cho con bú có thể sử dụng phương pháp này để tránh thai.

Những dấu hiệu khác:
+ Vào ngày trứng rụng, ở lỗ cổ tử cung có một chất dịch nhờn, trong. Cho chất đó vào hai ngón tay, có thể kéo ra được. Nếu giao hợp lúc đó, tử cung có khả năng thu hút tinh trùng mạnh.
+ Từ lúc trứng rụng trở đi, độ pH ở môi trường âm đạo là 7,5 – 8,0. Trước ngày trứng rụng là 7,3 và thấp hơn.
+ Trong những ngày trứng rụng, người vợ thường có cảm
giác động tình (thích gần chồng), thường chủ động gặp chồng. Một số chị em có hiện tượng buồn nôn.
+ Vài ngày trước khi trứng rụng, ở phần lớn chị em, vú nở to và có cảm giác căng cứng.

Phương pháp thụ thai trai, gái theo ý muốn
Muốn sinh con gái
Vợ chồng chỉ gặp nhau một lần trước ngày trứng rụng 3-4 ngày. Chồng để dành tinh dịch trong 7-10 ngày.
Lưu ý:
- Động tác của chồng cần nhẹ nhàng, tránh kích thích làm cho người vợ rụng trứng đột xuất.
- Khi xuất tinh, không cho dương vật vào sâu, chỉ khoảng 1/3 chiều dài âm đạo từ ngoài vào (xuất tinh nông) để cho tinh trùng Y nằm lâu ở âm đạo và suy yếu dần, chỉ còn tinh trùng X tồn tại, vào tử cung, ống dẫn trứng, chờ trứng rụng để thụ tinh.
- Để hỗ trợ tinh trùng X và làm suy yếu tinh trùng Y, chị em có thể thụt rửa âm đạo bằng dung dịch axit nhẹ trước khi giao hợp 1 giờ (1 thìa cà phê nước cốt chanh tươi hòa trong một lít nước đun sôi để nguội). Những chị em thường ăn quá mặn, sống ở miền biển hoặc thường uống nước suối có nhiều chất khóang Na thì phải áp dụng nghiêm túc động tác hỗ trợ này. Nếu chị em ăn bình thường ăn nhạt, ở đồng bằng hoặc miền núi hoặc thường uống nước suối có nhiều chất khoáng Ca, thì không cần thụt rửa âm đạo.
- Việc xác định trước ngày trứng rụng khó chính xác, phải dựa vào quy luật thân nhiệt ít nhất là 3 chu kỳ. Đối với chị em có vòng kinh không đều, việc xác định này lại càng khó, đòi hỏi phải kiên trì theo dõi mới đạt kết quả.
Muốn sinh con trai
Vợ chồng chỉ gặp nhau một lần sau ngày trứng rụng 1 ngày. Chồng phải để dành tinh dịch trong 7-10 ngày.
- Xuất tinh sâu cho tinh trùng Y chạy vào tử cung và ống dẫn trứng sớm hơn, tiếp cận được với trứng để thụ tinh.
- Để hỗ trợ cho tinh trùng Y và làm suy yếu tinh trùng X, chị em có thể thụt rửa âm đạo bằng dung dịch kiềm nhẹ trước khi giao hợp 1 giờ (một thìa cà phê thuốc tiêu muối Bicarbonat natri hòa trong một lít nước đun sôi để nguội). Những chị em nào thường ngày quen ăn nhạt hoặc sống ở miền núi, hoặc thường uống nước suối có nhiều chất khoáng Ca, thì phải áp dụng nghiêm túc động tác hỗ trợ này. Nếu chị em ăn bình thường hoặc ăn mặn, sống ở đồng bằng hoặc miền biển, hay uống nước suối có nhiều chất khoáng Na thì không cần áp dụng.
Giao hợp xong, chị em phải nằm 3 – 4 giờ mới đi tắm rửa và đừng dội nước vào sâu vào âm đạo (đối với cả hai trường hợp sinh trai và sinh gái).

Những yếu tố ảnh hưởng đến sự rụng trứng
Ở cơ thể một phụ nữ có sức khỏe bình thường, trung bình mỗi tháng có một trứng chín, rụng ra, rơi vào vòi trứng. Quá trình đó bị chi phối bởi nhiều yếu tố môi trường trong và ngoài cơ thể, bao gồm:
- Trạng thái sức khỏe, nề nếp sinh hoạt, nghỉ ngơi, lao động, cuộc sống gia đình, trạng thái tinh thần… . Chúng ảnh hưởng đến nội tiết tố, mà nội tiết tố lại chi phối toàn bộ quá trình chín và rụng của trứng.
- Chế độ ăn uống điều độ: Giúp cho cơ quan sinh dục hoạt động bình thường, nang Graff phát triển bình thường, trứng rụng đúng ngày.

Chủ động tạo ra đời đứa con khỏe mạnh, xinh đẹp

1. Chuẩn bị
- Cố gắng tập trung bồi dưỡng trong một thời gian nhất định. Nếu một trong hai người yếu thì tập trung cho người đó. Nếu có bệnh ảnh hưởng đến thai thì phải chữa lành bệnh. Người vợ đã đến tuổi 22 nhưng chưa đủ điều kiện thì hoãn thụ thai.
- Không được thụ thai nếu trước đó 3 tháng, một trong hai người mắc bệnh sởi, cúm, sốt xuất huyết…
- Phòng ngủ của vợ chồng phải gọn sạch, nên trang trí đẹp, có ảnh trẻ con kháu khỉnh, mạnh khỏe.
- Có kế hoạch và chuẩn bị trước các điều kiện cần thiết cho các giai đoạn sau.
2. Thụ thai
- Nên chọn mùa xuân để thụ thai, chọn lúc hai vợ chồng sung sức và cảm thấy thoải mái. Ngoài ra, cần cân nhắc thêm về tác dụng của môi trường, khí hậu từng vùng đối với trẻ sơ sinh và định thời gian thụ thai.
- Chỉ giao hợp một lần trong ngày đã chỉ định, theo phương pháp thụ thai trai hoặc gái theo ý muốn.
- Giao hợp vào sáng sớm, sau một giấc ngủ ngon.
- Vợ chồng không được thụ thai trong lúc chếch choáng hơi men.
3. Dưỡng thai
Trong gia đình (cha mẹ anh chị em, vợ chồng…) cần có một cuộc sống hoà thuận, đừng để những chuyện cãi vả ảnh hưởng đến người vợ, nhất là giai đoạn thụ thai và dưỡng thai. Từ khi thụ thai đến tuần thứ 11 là giai đoạn quan trọng nhất trong toàn bộ quá trình hình thành và phát triển của thai.
- Tuần thứ 1-3: Trứng “làm tổ” vào niêm mạc dạ con, thai dễ chết và sẩy.
- Tuần thứ 2-5: Hình thành đa số các cơ quan. Thời kỳ này, thai dễ chết hoặc quái dị từng vùng lớn, gây quái thai hoặc các khuyết tật nặng.
- Tuần thứ 8-11: Hình thành rau, thai dễ bị rối loạn nuôi dưỡng, gây ra dị dạng, bệnh bẩm sinh, ảnh hưởng đến trí thông minh, thể lực và sức đề kháng của đứa trẻ sau này.
Trong giai đoạn này, vợ chồng tránh giao hợp. Người vợ tránh dùng các loại rượu và thuốc lá. Nếu người mẹ bị bệnh sởi, cúm, sốt xuất huyết… thì phải đi khám ngay để thầy thuốc cho ý kiến giải quyết.
Sau 3 tháng, thai nhi đã hình thành xong các cơ quan và bắt đầu phát triển. Đặc biệt, trong 3 tháng cuối, thai phát triển nhanh, nếu chế độ ăn của bà mẹ có quá ít protide thì số lượng tế bào não sẽ giảm đi. Sau này, số lượng tế bào não của trẻ sẽ không tăng nữa. Những đứa trẻ này khi lớn lên sẽ bị ảnh hưởng tới sự phát triển của trí tuệ.
Khi thai đến tháng thứ 8 hoặc thứ 9, cần tiêm vào bắp thịt của mẹ một liều duy nhất 600.000 đơn vị vitamin A và 600.000 đơn vị vitamin D2 để đề phòng bệnh còi xương bẩm sinh cho con. Vitamin A có trong dầu gan cá thu hay cá chim, lòng đỏ trứng, chất kem của sữa, một số rau quả như gấc chín, đu đủ, bồ công anh, cà rốt, rau
diếp. Vitamin D có nhiều trong dầu cá, gan động vật, trứng… Nếu không dùng thuốc, có thể ăn nhiều thức ăn kể trên.
Vào 3 tháng cuối của thai kỳ và 6 tháng đầu sau khi đẻ, người mẹ ần ăn thêm mỗi tháng 3 kg gạo và 1 kg thịt. Có như vậy mới bảo đảm cho trẻ không bị thiếu cân và người mẹ có đủ sữa cho con bú.
Tháng cuối cùng, vợ chồng tránh giao hợp. Các tháng trước đó có thể giao hợp nhưng động tác phải thật nhẹ nhàng với tư thế nằm nghiêng. Khi có thai, chị em phải đi khám thai; ít nhất từ lúc có thai đến khi đẻ nên khám 3-5 lần. Vào những tháng cuối, cần đi khám đều để thầy thuốc và người hộ sinh theo dõi, chẩn đoán và lường trước việc sinh đẻ.
4. Đẻ và sau đẻ
- Chị em nào cũng muốn “đẻ không đau”. Muốn thế, ngay từ lúc chưa có hoặc mới có thai, người mẹ cần áp dụng phương pháp tập luyện sau:
- Trước hết, tập một số động tác thể dục làm mềm dẻo các khớp xương chậu, háng, đầu gối, cột sống. Tập ở tư thế nằm ngửa, nằm sấp, ngồi bò bốn chân.
- Tập thư giãn toàn thân. Đây là khâu quan trọng nhất vì lúc đẻ cần giãn mềm những cơ bắp không cần thiết, chỉ co rút những cơ cần thiết. Hạn chế sự trương cơ tràn lan.
- Tập làm chủ hơi thở.
- Tập điều khiển cơ hoành và các cơ phối hợp. Trong lúc rặn đẻ, sản phụ cần rặn lúc đã thở vào, chứ không thở ra hết rồi mới rặn. Lúc rặn, sử dụng cơ hoành đẩy tử cung xuống và sử dụng các cơ ở phần trên lồng ngực để thở (lúc này thở rất nhanh và nông). Giữa hai cơn rặn, cần lấy hơi lại ngay và giãn mềm toàn thân.

Những yếu tố gây hại cho tinh trùng, trứng và thai nhi
1. Nhiệt độ môi trường
Người mẹ dễ nóng hơn người khác do khi có thai, lớp mỡ dày lên. Tuy nhiên, khả năng chống lạnh của mẹ lại tốt hơn. Nếu có sự thay đổi nhiệt độ kéo dài (như đi lâu dưới trời nắng, làm việc lâu nơi quá nóng, sốt cao hay nhiễm lạnh), thai sẽ bị ảnh hưởng. Vì vậy, các bà mẹ đang mang thai không được làm việc lâu (hoặc ở lâu) trong môi trường quá nóng, quá lạnh; ngay cả việc tắm nắng, tắm lạnh cũng cần phải có mức độ.
2. Áp lực ôxy
Ôxy hết sức cần thiết cho một cơ thể đang phát triển rất nhanh như bào thai. Người mẹ phải ở nơi thoáng, đủ ôxy thì thai mới dễ chịu. Tình trạng thiếu ôxy ở ba tháng đầu có thể khiến thai mất não, biến dạng xương, có khuyết tật ở tim, mạch. Ở ba tháng cuối, thai chịu đựng tốt hơn nhưng vẫn khó tránh được những thiếu sót về chức năng; khả năng trí tuệ, khả năng đề kháng, miễn dịch… của đứa trẻ sau này nhất định bị giảm sút.
3. Thuốc chữa bệnh và thuốc bổ
Nhiều thứ thuốc có lợi và vô hại cho mẹ lại có hại lớn cho thai. Thuốc aspirin gây chảy máu ở thai nếu mẹ dùng liều cao vào những tháng cuối. Vitamin D cần cho bà mẹ và thai nhi nhưng nó cũng gây ra tình trạng thai chết, quái thai, dị tật, nhiễm độc thai nếu dùng quá liều lượng và không đúng lúc. Đối với các loại kháng sinh lại càng phải thận trọng. Nói chung, nếu dùng thuốc bệnh hoặc thuốc bổ, phải
nhờ thầy thuốc chuyên khoa hướng dẫn.
4. Vi khuẩn và virus
Vi khuẩn và virus có thể thông qua tinh trùng và trứng gây tổn thương
cho thai khi nó mới hình thành. Vi khuẩn của bệnh hoa liễu đã gây bao nỗi khủng khiếp cho bà mẹ và có thể truyền cho các thế hệ sau. Vi rút của các bệnh cúm, sởi, sốt xuất huyết, viêm gan, rubêôn, quai bị… hay gây chết thai và quái thai. Trong vụ dịch sởi năm 1941, người ta thấy nhiều trẻ em mới đẻ dị tật ở tim, khiếm thính, kém phát triển trí tuệ… Các bà mẹ chưa nên thụ thai nếu ba tháng trước đó vừa mắc sởi.
Các thống kê cho thấy, nếu bà mẹ bị cúm lúc thai dưới ba tháng thì nguy cơ thai bị dị tật là 37%; nếu bị muộn hơn, nguy cơ này là 13%. Một số trẻ bị bệnh bạch cầu do mẹ bị cúm khi có thai. Trong các trường hợp trên, cần xin ý kiến thầy thuốc để xử lý sớm.
5. Tia rơn-ghen và tia phóng xạ
Để tránh chết thai, đẻ non, dị tật, ung thư máu và các bệnh di
truyền…, thầy thuốc thường không cho thai phụ chiếu điện vì các tia
rơn-ghen và tia phóng xạ phá hủy ADN rất mạnh, làm rối loạn sự sắp xếp các nhiễm sắc thể trong tế bào.
6. Tuổi của bố mẹ
Phụ nữ ở tuổi 22, các cơ quan trong cơ thể đã hoàn thiện, phần lớn chị em đã có nghề nghiệp, có thể tự lập trong cuộc sống, đã có một ít kiến thức về xã hội, thụ thai, dưỡng thai, đẻ và nuôi dạy con. Ở
tuổi này, người phụ nữ mới đủ tư cách làm mẹ. Người chồng thường lớn hơn người vợ vài tuổi hoặc cùng tuổi. Đến độ đó, thể chất và tinh thần đã phát triển, đủ tư cách trở thành người bố. Việc sinh con quá sớm ảnh hưởng không ít tới sức khỏe của bà mẹ và trẻ em.
Con đầu lòng thường kém khỏe mạnh và thông minh hơn con sau. Nguyên nhân chính là:
- Bố mẹ non trẻ, trứng và tinh trùng chưa thuần thục.
- Chưa có ý thức chuẩn bị để chủ động thụ thai.
- Mẹ chưa có kiến thức về dưỡng thai, đẻ, nuôi dạy con.
- Mẹ mang nặng tâm lý “sợ thai to khó đẻ” nên dù có điều kiện cũng không dám bồi dưỡng, phải kiêng khem, muốn thai bé cho dễ đẻ, xảy ra tình trạng “mẹ tròn con méo”.
Các bạn trẻ cần rút kinh nghiệm để con đầu khỏi bị thiệt thòi. Trong tương lai không xa, con đầu lòng sẽ chiếm trên một nửa số dân.
Ngoài ra, cần hết sức quan tâm đến con của những cặp vợ chồng
lớn tuổi. Con của các bà mẹ lớn tuổi dễ mắc bệnh Down hơn so với con của bà mẹ ít tuổi. Tần số chung của bệnh này là 1/700 sơ sinh. Ở các bà mẹ dưới 30 tuổi, tỷ lệ này 1/2500 – 1/2000; ở bà mẹ 30-34 tuổi, tỷ lệ này là 1/2000; 35-39 tuổi: 1/50. Nhiều nghiên cứu cho thấy, nguy cơ bị bệnh Down ở con cũng tăng dần theo tuổi của người cha. Nguy cơ con mắc bệnh cũng tăng ở các bà mẹ quá trẻ (dưới 20 tuổi).
Bệnh Down thường xuất hiện ở con của những cặp vợ chồng già là do tế bào người già đã giảm dần khả năng thực hiện chính xác các chức năng phân bào, khiến tần số đứt gãy nhiễm sắc thể và các sai lệch về số lượng nhiễm sắc thể tăng. Để có con khỏe mạnh thông minh, người mẹ nên sinh con trong khoảng 22-30 tuổi.

Nguồn: VnExpress

Leave a Reply

You must be logged in to post a comment.

Dansette